THEO DÕI CHÚNG TÔI

Giấy phép thiết lập MXH số 61/GP-BTTTT, do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 29/01/2021.

Từ khóa phổ biến

Việt Nam mất khoảng 20 năm để bước vào xã hội già hóa, mở ra thị trường chăm sóc người cao tuổi gần 5 tỷ USD

Min Hong

Min Hong

03 Thg 10 Công khai

Tốc độ già hóa dân số thuộc nhóm nhanh trên thế giới đang tạo ra nhu cầu lớn đối với dịch vụ chăm sóc người cao tuổi tại Việt Nam, với quy mô thị trường được dự báo có thể đạt 4,8 tỷ USD vào năm 2031.

Việt Nam mất khoảng 20 năm để bước vào xã hội già hóa, mở ra thị trường chăm sóc người cao tuổi gần 5 tỷ USD - ảnh 1

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ nhanh, khi tỷ lệ sinh giảm trong khi tuổi thọ ngày càng tăng. Theo Nikkei, quá trình chuyển đổi từ xã hội có tỷ lệ người cao tuổi thấp sang xã hội già hóa của Việt Nam chỉ diễn ra trong khoảng 2 thập kỷ, trong khi Pháp mất tới 115 năm để trải qua quá trình tương tự.

Từ mức gần 7 con/phụ nữ vào những năm 1960, tỷ suất sinh tại Việt Nam đã giảm xuống quanh mức 2 con từ năm 2006. Với dân số hơn 100 triệu người, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên được dự báo tăng từ 7% năm 2015 lên hơn 14% vào năm 2036.

Đáng chú ý, tuổi thọ tăng không đồng nghĩa với việc người dân duy trì sức khỏe tốt trong toàn bộ quãng đời còn lại. Theo nghiên cứu của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) và cơ quan thống kê Việt Nam, tuổi thọ trung bình của người Việt đạt 74,7 tuổi, trong khi tuổi thọ khỏe mạnh chỉ khoảng 65,4 tuổi.

Điều này đồng nghĩa nhiều người có thể phải sống gần 10 năm cuối đời với những hạn chế về sức khỏe, vận động hoặc khả năng tự chăm sóc.

Gia đình vẫn là nơi chăm sóc chính

Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc ngày càng tăng, phần lớn người cao tuổi Việt Nam vẫn phụ thuộc vào gia đình.

Theo UNFPA, khoảng 99% người cao tuổi tại Việt Nam dựa vào sự chăm sóc của người thân, trong đó phụ nữ đảm nhận khoảng 72% khối lượng công việc chăm sóc.

Mô hình này đang chịu sức ép khi quy mô gia đình ngày càng thu hẹp, người trẻ rời quê để học tập và làm việc, trong khi cha mẹ sống lâu hơn. Khoảng cách địa lý khiến việc chăm sóc trực tiếp trở nên khó khăn, đồng thời đặt thêm áp lực lên hệ thống y tế và an sinh xã hội.

Đây cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy sự hình thành của “nền kinh tế bạc” – nhóm ngành cung cấp sản phẩm và dịch vụ phục vụ người cao tuổi.

Catherine Earl, Phó giáo sư tại RMIT Việt Nam, cho rằng sự phát triển của kinh tế bạc là một trong những thay đổi đáng chú ý của Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI, gắn với đô thị hóa, sự thu hẹp quy mô gia đình và tốc độ già hóa dân số.

Theo Ken Research, thị trường chăm sóc người cao tuổi tại Việt Nam có thể tăng từ 2,68 tỷ USD năm 2025 lên 4,8 tỷ USD vào năm 2031, tương đương tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10% mỗi năm.

Dưỡng lão từ 7 triệu đến hơn 100 triệu đồng mỗi tháng

Thị trường đang xuất hiện nhiều mô hình chăm sóc với mức giá và phân khúc khác nhau.

Trong giai đoạn 2022-2025, hệ thống dưỡng lão Diên Hồng đã mở thêm 7 cơ sở và dự kiến tiếp tục mở rộng tại TP.HCM. Chi phí chăm sóc cơ bản tại hệ thống này dao động từ 7-18 triệu đồng mỗi tháng.

Tại Hà Nội, viện dưỡng lão Tâm An Nhiên với quy mô khoảng 40 giường có mức phí từ 13-20 triệu đồng/người/tháng. Sau khoảng 9 tháng hoạt động, lượng khách tìm hiểu dịch vụ đã tăng lên đáng kể và đơn vị này đang tính đến phương án mở thêm 2 cơ sở.

Ở phân khúc cao cấp, Phương Đông Asahi vận hành theo mô hình Nhật Bản với mức phí từ khoảng 40 triệu đồng/tháng. Với các phòng ở và tiện ích cao cấp, tổng chi phí có thể vượt 100 triệu đồng mỗi tháng.

Tuy nhiên, mạng lưới chăm sóc chuyên nghiệp vẫn chưa phủ rộng. Việt Nam hiện có hơn 400 cơ sở dưỡng lão, trong đó gần một nửa là các cơ sở từ thiện hoặc được Nhà nước hỗ trợ. Phần lớn các cơ sở tập trung tại Hà Nội và TP.HCM.

Thị trường không chỉ cần viện dưỡng lão

Việc phát triển thêm các cơ sở nội trú mới chỉ giải quyết một phần nhu cầu. Thị trường đang hướng đến nhiều mô hình khác như chăm sóc ban ngày, chăm sóc tại nhà và kết hợp nhà ở với dịch vụ y tế.

Theo đại diện Diên Hồng, nhu cầu của người cao tuổi không đồng nhất. Nhiều người cần được chăm sóc chuyên nghiệp nhưng vẫn muốn duy trì cuộc sống tại nhà và gần gũi với gia đình.

Dữ liệu của Ken Research cho thấy tỷ trọng doanh thu từ dịch vụ chăm sóc tại nhà có thể tăng từ 34% năm 2025 lên 42% vào năm 2031. Mô hình này có lợi thế khi phù hợp với văn hóa gia đình, không yêu cầu đầu tư quá lớn vào cơ sở vật chất và có thể được hỗ trợ bởi các nền tảng công nghệ.

Một hướng khác đang được quan tâm là mô hình “elderly living”, kết hợp nơi ở với dịch vụ chăm sóc y tế.

PGS.TS Nguyễn Lân Hiếu, Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cho rằng cách tiếp cận đối với việc chăm sóc cha mẹ khi về già cần thay đổi khi cấu trúc gia đình và điều kiện sống đã khác trước.

Theo định hướng này, người cao tuổi có thể sinh sống trong khu nhà ở chuyên biệt, đồng thời tiếp cận các dịch vụ y tế từ cơ bản đến chuyên sâu ngay tại nơi ở.

Tháng 1/2026, Khu phức hợp y tế chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Đại học Y Hà Nội được khởi công với tổng vốn khoảng 14.200 tỷ đồng. Dự án kết hợp khám chữa bệnh, đào tạo, nghiên cứu và khu dưỡng cư dành cho người cao tuổi.

Khu nhà ở dự kiến có khoảng 720 căn hộ, phục vụ khoảng 1.680 người. Các khu vực phía dưới được bố trí hệ thống dịch vụ y tế từ cấp cứu đến chẩn đoán chuyên sâu.

Bài toán lớn của doanh nghiệp là chi phí và nhân lực

Tiềm năng thị trường lớn nhưng vận hành dịch vụ chăm sóc người cao tuổi là lĩnh vực có chi phí cao và biên lợi nhuận thấp.

Theo chủ một cơ sở dưỡng lão tại Hà Nội, cơ sở cần tối thiểu khoảng 27 người lưu trú mới có thể bù đắp chi phí vận hành. Trong khi đó, đại diện Diên Hồng cho biết một số cơ sở chỉ hòa vốn hoặc chấp nhận lỗ nhẹ để duy trì hoạt động và khả năng tiếp nhận người cao tuổi.

Chi phí nhân sự cũng là một trong những nút thắt. Các cơ sở phải liên tục tuyển dụng, đào tạo và tìm cách giữ chân nhân viên, trong khi công việc chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi sự kiên nhẫn và kỹ năng chuyên môn.

Diên Hồng hiện có hơn 300 nhân viên, trong đó hơn một nửa dưới 30 tuổi. Doanh nghiệp triển khai nhiều hoạt động nội bộ nhằm tăng khả năng gắn bó của người lao động với công việc.

Khả năng chi trả là rào cản lớn

Dù nhu cầu tăng nhanh, không phải người cao tuổi nào cũng có khả năng sử dụng dịch vụ dưỡng lão tư nhân.

Theo UNFPA, khoảng 76% người cao tuổi tại Việt Nam không có lương hưu và phải dựa vào tiền tiết kiệm hoặc hỗ trợ từ gia đình.

Trong khi đó, dữ liệu của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cho thấy khoảng 3,4 triệu người đang nhận lương hưu và trợ cấp hằng tháng. Gần 564.000 người nhận dưới 3 triệu đồng/tháng, còn khoảng 1,35 triệu người nhận từ 3-6 triệu đồng/tháng.

Những mức thu nhập này thấp hơn đáng kể so với chi phí tại nhiều cơ sở dưỡng lão tư nhân. Ngay cả mức giá khởi điểm khoảng 7 triệu đồng/tháng cũng vượt khoản lương hưu và trợ cấp của một bộ phận người cao tuổi.

Hiện người sử dụng dịch vụ tại các cơ sở chăm sóc tư nhân chưa nhận được khoản trợ cấp trực tiếp từ Nhà nước để chi trả chi phí này.

Vì vậy, bên cạnh việc mở rộng nguồn cung, bài toán phát triển thị trường chăm sóc người cao tuổi còn nằm ở khả năng chi trả của người dân, chính sách hỗ trợ và xây dựng nguồn nhân lực.

Khi quá trình già hóa diễn ra nhanh hơn, Việt Nam sẽ phải đồng thời giải quyết cả nhu cầu chăm sóc ngày càng lớn của người cao tuổi và áp lực ngày càng tăng đối với các gia đình. Đây cũng là yếu tố quyết định tốc độ hình thành và quy mô thực tế của thị trường “kinh tế bạc” trong những năm tới.

0 Bình luận
Chia sẻ

Cùng cộng đồng

0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ
0 Bình luận
Chia sẻ